Về virut HPV

1TẠI SAO NÊN TIÊM VẮC XIN PHÒNG HPV?


Ung thư cổ tử cung và các bệnh liên quan đến HPV là một trong những vấn đề Y tế công cộng trên thế giới và ở Việt Nam. Dự phòng ung thư cổ tử cung là hiệu quả nhất thông qua việc tiêm vắc xin phòng HPV cho trẻ em gái và phụ nữ trẻ [1]

Vắc xin ngừa HPV là kết quả của hơn 15 năm nghiên cứu và phát triển. Nó được chứng minh là một vắc xin có độ an toàn và hiệu quả qua các thử nghiệm lâm sàng liên quan đến hơn 25.000 phụ nữ và nam giới và tiếp tục được đánh giá trong các nghiên cứu giám sát sau khi được cấp phép [1]

Hiệu quả và thời gian bảo vệ:

Về tác động của chương trình tiêm chủng ở mức cộng đồng, các bằng chứng cho thấy giảm tỷ lệ bất thường cổ tử cung, giảm mức độ nặng và giảm tỷ lệ hiện các chủng HPV nguy cơ cao ở phụ nữ trẻ. Ngoài ra các vắc xin có chứa các chủng HPV 6, 11 có hiệu quả trong việc làm giảm tỷ lệ mới mắc sùi mào gà/mụn cóc vùng hậu môn sinh dục [1]

Thông qua các nghiên cứu lâm sàng trước và sau lưu hành của các vắc xin ngừa HPV cho thấy tại thời điểm hiện tại, thời gian bảo vệ đều đạt trên 10 năm. Bên cạnh đó, qua các mô hình toán học còn cho thấy khả năng bảo vệ kéo dài của vắc xin có thể lên đến 35 năm [1]

Tài liệu tham khảo:

  1. “Hướng dẫn dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung”, Số 2402/ QĐ-BYT
  2. Markowitz LE et.al, Human Papillomavirus Vaccination: Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP). MMWR RecommRep. 2014 Aug 29;63(RR-05):1-30.
  3. CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG NHIỄM HPV VÀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG, Hội Y học Dự phòng Việt Nam, Hà Nội, 07/2018
  4. Bruni L et.al, ICO/IARC Information Centre on HPV and Cancer (HPV Information Centre). Human Papillomavirus and Related Diseases in the World. Summary Report 17 June 2019

2TÌNH HÌNH NHIỄM HPV VÀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM


Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trên toàn thế giới, ước tính có 569.847 trường hợp mắc mới và 311.365 ca tử vong trong năm 2018 (GLOBOCAN) [4]

Khoảng 4.177 trường hợp ung thư cổ tử cung mới được chẩn đoán hằng năm và khoảng 2.420 ca tử vong do ung thư này hàng năm tại Việt Nam (ước tính cho năm 2018) [4]

Ung thư cổ tử cung là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 trong các loại ung thư ở nữ giới tại Việt Nam (dữ liệu GLOBOCAN 2018) [4]

Ung thư cổ tử cung là ung thư nữ phổ biến thứ 3 ở phụ nữ từ 15 đến 44 tuổi ở Việt Nam [4]

Tỷ lệ hiện nhiễm HPV ở phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung theo chủng HPV là 48,5% đối với chủng HPV 16, và 34,3% đối với chủng HPV 18 [4]

Tỷ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung ở Việt Nam có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ hiện nhiễm HPV, tỷ lệ này cũng cao hơn ở khu vực miền Nam so với miền Bắc. Một nghiên cứu tiến hành vào năm 2003 cho thấy tỷ lệ hiện mắc ở thành phố Hồ Chí Minh là 10,9% cao gấp 4-5 lần tại Hà Nội với tỷ lệ 2%. Một nghiên cứu khác vào năm 2010-2011 cho thấy tỷ lệ này tại Thành phố Hồ Chí Minh là 8,27% và tại Hà Nội là 6,13%. Cả hai nghiên cứu đều chỉ ra rằng nhiễm HPV có liên quan đến số lượng bạn tình và quan hệ tình dục sớm [1]

3HPV và ung thư cổ tử cung?


Các chủng HPV gây ung thư hoặc nguy cơ cao là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung và các ung thư đường sinh dục khác. Các chủng HPV nguy cơ cao được phát hiện ở hơn 99% các trường hợp ung thư cổ tử cung, trong đó chủng 16 gây ra khoảng 50% các trường hợp ung thư cổ tử cung, chủng 16 và 18 gây ra hơn 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung [3]

Nếu người phụ nữ nhiễm HPV nguy cơ cao và phối hợp với các yếu tố nguy cơ khác, tổn thương ban đầu có thể tồn tại và tiến triển trong khoảng 10-20 năm qua các giai đoạn tân sản nội biểu mô để hình thành ung thư cổ tử cung [1]

Ngoài ung thư cổ tử cung, nhiễm HPV cũng gây nên các ung thư đường sinh dục khác mặc dù ít phổ biến hơn như ung thư âm hộ, âm đạo, hậu môn. Ngoài ra nhiễm HPV còn gây các ung thư ngoài đường sinh dục như là ung thư hầu họng [3]

Nhiễm HPV xảy ra ở tế bào biểu mô màng đáy. Mặc dù tỷ lệ mới nhiễm là cao, hầu hết các trường hợp nhiễm là tự khỏi. Một tỷ lệ nhỏ người nhiễm HPV sẽ bị nhiễm mạn tính dai dẳng, đây là yếu tố quan trọng dẫn đến ung thư cổ tử cung [1]

Trong số những người nhiễm HPV, 5-30% là nhiễm nhiều chủng vi rút. Hầu hết các trường hợp nhiễm HPV là không có triệu chứng và không có biểu hiện lâm sàng rõ ràng. Ngoài ung thư cổ tử cung, các chủng HPV nguy cơ cao còn là tác nhân gây ra các loại ung thư như sau: 

- Ung thư hậu môn: 95% 

- Ung thư dương vật: 35% 

- Ung thư hầu họng: 70% 

- Ung thư âm hộ: 50% 

- Ung thư âm đạo: 65% [3].

4PHƯƠNG THỨC LÂY TRUYỀN HPV?


HPV có thể lây truyền thông qua các đường lây truyền như sau (xếp theo thứ tự nguy cơ từ cao xuống thấp): 

(1) quan hệ tình dục (dương vật, âm đạo, hậu môn); 

(2) do tiếp xúc tay, miệng với cơ quan sinh dục; 

(3) sử dụng chung đồ vật bị nhiễm HPV; 

(4) lây truyền từ mẹ sang con. 

Mặc dù, lây truyền HPV cho con trong quá trình sinh đẻ là hiếm gặp, nhưng sự lây truyền vẫn có thể xảy ra do tiếp xúc da-niêm mạc hoặc các tổn thương, trầy xước trong quá trình sinh đẻ. Khi bị nhiễm HPV, trẻ em có thể mắc bệnh đa bướu gai hô hấp tái phát, là nguyên nhân gây khàn giọng, khó thở ở trẻ nhỏ. 

Các tiếp xúc thông thường như ôm, hôn, bắt tay, ăn uống dùng chung bát đũa, tắm ở bể bơi, dùng chung bệ xí… không lây truyền HPV [3]

5AI CÓ NGUY CƠ NHIỄM VI RÚT HPV


Tất cả mọi người, cả nam giới và nữ giới, không phân biệt lứa tuổi đều có nguy cơ nhiễm HPV. 

Khi đã bắt đầu có quan hệ tình dục, thì nguy cơ nhiễm HPV sẽ cao hơn, kể cả khi bạn chỉ quan hệ tình dục với chỉ một người. Người có quan hệ tình dục đồng giới có nguy cơ nhiễm HPV cao hơn khi có tiếp xúc với bộ phận sinh dục, hậu môn của người đang nhiễm HPV.

Nguy cơ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời của người phụ nữ là khoảng 80%, với tỷ lệ nhiễm cao nhất xảy ra trong độ tuổi 20-30, có thể lên đến 20-25% trong quần thể [1]

6PHÂN LOẠI VI RÚT HPV


7Vi rút HPV?


Human papilloma virus, gọi tắt là vi rút HPV, là một loại vi rút gây u nhú ở người.

Cho đến nay đã phát hiện được khoảng 150 chủng HPV. Trong đó có hơn 30 chủng thường lây lan qua quan hệ tình dục [1]. Hầu hết các chủng khi nhiễm không có dấu hiệu hay triệu chứng và sẽ tự khỏi [2]

Người ta chia vi rút HPV sinh dục thành 2 nhóm: 

  • Nhóm nguy cơ thấp (thường gặp nhất là các chủng 6 và 11) gây nên sùi mào gà sinh dục.
  • Nhóm nguy cơ cao (có 14 chủng, các chủng thường gặp nhất là 16, 18, 31, 33 và 45) gây ra các tổn thương: CIN (tân sinh tế bào bất thường trong biểu mô cổ tử cung) và/ hoặc ung thư cổ tử cung, âm đạo, hậu môn, dương vật, thanh quản, …