PHƯƠNG THỨC LÂY TRUYỀN HPV

1UNG THƯ CỔ TỬ CUNG


Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung

- Nhiễm HPV với các chủng nguy cơ cao (chủng 16 và 18 chiếm 70% nguyên nhân ung thư cổ tử cung), quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không an toàn với nhiều bạn tình [1]

- Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (Chlamydia, Herpes simplex 2…), nhiễm khuẩn đường sinh sản

- Vệ sinh sinh dục kém tạo điều kiện mắc các nhiễm khuẩn đường sinh sản.

- Hút thuốc lá: người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung gấp ít nhất hai lần so với người không hút thuốc lá [2].

- Mang thai nhiều lần: người mang thai 3-4 lần có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung gấp 2,6 lần so với người chưa sinh con [4]

  • Suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thừa nhận tầm quan trọng của ung thư cổ tử cung (UTCTC) và các bệnh liên quan đến HPV như là vấn đề y tế toàn cầu và nhấn mạnh lại khuyến cáo rằng vắc xin HPV phải được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (TCMRQG). UTCTC chiếm 89% tất cả các ung thư liên quan đến HPV được coi là ưu tiên cho việc triển khai chương trình tiêm vắc xin HPV.

Tất cả 3 vắc xin được cấp phép nhị giá, tứ giá và cửu giá* đều có tính hiệu quả, hiệu lực và an toàn rất cao.

  • Các chiến lược triển khai: Vắc xin HPV phải được triển khai như là một phần của chiến lược toàn diện và lồng ghép để dự phòng UTCTC và các bệnh có liên quan đến HPV.
  • Chiến lược này bao gồm giáo dục sức khỏe, giảm hành vi nguy cơ nhiễm HPV, đào tạo cán bộ y tế và thông tin cho phụ nữ về các biện pháp sàng lọc, chẩn đoán sớm và điều trị các tổn thương tiền ung thư và ung thư.
  • Chiến lược này cũng bao gồm tăng khả năng tiếp cận đối với dịch vụ sàng lọc, điều trị ung thư xâm lấn và giảm đau có chất lượng.
  • Việc đưa vắc xin HPV vào chương trình tiêm chủng không làm ảnh hưởng đến các nguồn lực cho việc phát triển hay duy trì các chương trình sàng lọc phát hiện sớm UTCTC. Tiêm vắc xin HPV là một can thiệp dự phòng ưu tiên nhưng không có nghĩa là không bao gồm việc sàng lọc phát hiện sớm bởi vì vắc xin hiện nay không bảo vệ tất cả các típ HPV có nguy cơ cao và vắc xin có tác động hạn chế ở những phụ nữ lớn tuổi.
  • Cần phải tìm kiếm các cơ hội kết nối việc tiêm vắc xin HPV với việc tiêm vắc xin khác đối với cùng một nhóm tuổi (ví dụ vắc xin bạch hầu và uốn ván), lồng ghép vào các chương trình cho người trẻ tuổi (VD: qua các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và trường học). Tuy nhiên, việc đưa vắc xin HPV vào chương trình tiêm chủng không được chậm trễ do các can thiệp khác không thể được triển khai trong cùng thời gian. Tổ chức WHO khuyến cáo rằng tất cả các nước cần phải triển khai đưa vắc xin HPV vào chương trình TCMRQG.
  • Việc này có thể thành công qua việc kết hợp các chiến lược tiêm vắc xin khác nhau như qua cơ sở y tế, qua tiếp cận cộng đồng hoặc trường học và các chiến dịch.
  • Các nước có thể sử dụng các cách đề cập phù hợp với khả năng, năng lực của hệ thống bảo quản lạnh và cơ sở của hệ thống tiêm chủng; có khả năng chi trả, chi phí hiệu quả cao và có khả năng duy trì, và khả năng đạt được tỷ lệ tiêm cao nhất. Việc đưa vắc xin vào chương trình TCMR theo nhiều giai đoạn là một giải pháp ngắn hạn ở các nước khi mà các hạn chế về nguồn lực, tài chính làm cản trở việc triển khai một chương trình tiêm chủng mở rộng ở quy mô quốc gia trong một năm. Trong trường hợp này thì cần ưu tiên cho việc triển khai tiêm chủng vắc xin cho những quần thể ít có khả năng tiếp cận với việc sàng lọc UTCTC.



- Các quần thể đích:

  • Quần thể ưu tiên số 1 để tiêm vắc xin là trẻ em gái từ 9–14 tuổi trước tuổi tình dục. Các chiến lược vắc xin, ưu tiên đạt tỷ lệ cao ở quần thể này. Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin ở trẻ em gái cao (>80%) sẽ làm giảm nguy cơ HPV ở trẻ em trai.
  • Quần thể ưu tiên thứ 2 là phụ nữ ≥15 tuổi hoặc nam giới*: chỉ được khuyến cáo nếu việc tiêm vắc xin cho quần thể này là khả thi, chi trả được, chi phí hiệu quả cao, không làm ảnh hưởng đến việc tiêm vắc xin cho quần thể ưu tiên số 1 và các chương trình sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung.
  • Đối với trẻ em gái từ 9-18 tuổi, việc tiêm vắc-xin cho nhiều lứa tuổi sẽ đạt được tác động lớn hơn, nhanh hơn việc tiêm vắc-xin cho một lứa tuổi cố định do làm tăng bảo vệ trực tiếp và miễn dịch quần thể. Cách tiếp cận này cũng sẽ tạo cơ hội cho việc mở rộng diện tiêm và làm cho chương trình có khả năng đáp ứng được các gián đoạn trong việc cung ứng vắc xin. Tiêm vắc xin ở trẻ em gái 9-14 tuổi có chi phí hiệu quả cao đặc biệt khi sử dụng việc tiêm 2 liều** vắc xin. Việc bắt đầu tiêm vắc xin cho trẻ em gái 9-14 được khuyến cáo khi mà vắc xin lần đầu tiên được sử dụng. Việc đưa thêm lứa tuổi trẻ em gái và phụ nữ ≥15 tuổi có chi phí hiệu quả thấp hơn vì lúc đó đòi hỏi lịch tiêm 3 liều và tỷ lệ nữ giới có quan hệ tình dục lớn hơn ở nhóm tuổi này.


  • Lựa chọn vắc xin HPV:
  • Các bằng chứng hiện nay cho thấy về phương diện y tế công cộng (YTCC), các vắc xin nhị giá, tứ giá và cửu giá*** cho kết quả tương đương về tính hiệu quả, hiệu lực và tính sinh miễn dịch để dự phòng UTCTC chủ yếu gây ra bởi HPV típ 16 và 18.
  • Lựa chọn vắc xin HPV phải dựa trên việc đánh giá số liệu của địa phương và   cân nhắc nhiều yếu tố bao gồm: mức độ của các vấn đề YTCC liên quan đến HPV (UTCTC, các ung thư khác liên quan đến HPV hoặc các vết loét hậu môn sinh dục), quần thể sẽ được tiêm vắc xin, đặc tính của vắc xin như giá cả và các vấn đề khi triển khai chương trình.


  • Lịch tiêm vắc xin:
  • Các bằng chứng hiện nay ủng hộ khuyến cáo lịch tiêm 2 liều** với khoảng cách phù hợp giữa mũi 1 và 2 ở lứa tuổi từ 9–14 tuổi. Lịch tiêm này có chi phí thấp hơn và có ưu điểm khi triển khai có thể có được tỷ lệ tiêm chủng cao.
  • Đối với vắc xin HPV, lịch tiêm 2 liều** với khoảng cách 6 tháng được khuyến cáo cho những người dưới 15 tuổi. 

 

*Vắc xin tứ giá đang lưu hành tại Việt Nam chưa được cấp phép trên quần thể nam giới

** Vắc xin tứ giá đang lưu hành tại Việt Nam chưa được cấp phép tiêm 2 liều

***Vắc xin cửu giá chưa được cấp phép lưu hành tại Việt Nam

 

  • Không có khuyến cáo về khoảng thời gian dài nhất giữa các liều tiêm. Tuy nhiên khoảng cách giữa các liều này không lớn hơn 12-15 tháng để bảo đảm hoàn thành đúng lịch tiêm và trước tuổi tình dục. Nếu khoảng cách các mũi tiêm dưới 5 tháng thì liều thứ 3 phải được tiêm ít nhất 6 tháng sau liều 1.
  • Lịch tiêm 3 liều (0,1-2,6 tháng) phải được áp dụng cho tất cả những người được tiêm vắc xin ở lứa tuổi ≥15 tuổi bảo gồm cả những người dưới 15 tuổi bị nhiễm HIV và bị suy giảm miễn dịch (cho dù họ có được điều trị thuốc kháng vi rút hay không). Không cần thiết phải sàng lọc nhiễm HPV hoặc nhiễm HIV trước khi tiêm vắc xin HPV.


  • Tiêm đồng thời với các vắc xin khác:
  • Vắc xin HPV có thể được tiêm đồng thời với vắc xin sống và bất hoạt khác sử dụng bơm kim tiêm riêng và tiêm ở vị trí khác.
  • Tiêm đồng thời vắc xin HPV với việc tiêm nhắc lại vắc xin bạch hầu-uốn ván, phải được xem xét vì các lý do thuận lợi trong triển khai chương trình.
  • Do những vắc xin này có đặc tính, thành phần, chỉ định khác nhau nên ở nơi mà sẵn có một hoặc nhiều loại vắc xin HPV thì nên cố gắng sử dụng cùng loại vắc xin cho tất cả các liều.
  • Tuy nhiên, nếu vắc xin sử dụng cho liều trước không biết hoặc không có thì sử dụng thay thế bất kì vắc xin nào có sẵn hiện nay để hoàn thành lịch tiêm theo quy định
  • Tính an toàn:


  • Các phản ứng sau tiêm vắc xin HPV thông thường là nhẹ và tồn tại trong một thời gian ngắn. Vắc xin có thể được sử dụng cho những người suy giảm miễn dịch và nhiễm HPV.
  • Hiện có ít số liệu về tính an toàn của vắc xin HPV cho phụ nữ mang thai, do đó không nên tiêm vắc HPV cho phụ nữ mang thai.
  • Nếu phụ nữ trẻ mang thai sau khi tiêm vắc xin 1 mũi đầu tiên thì những mũi tiếp theo sẽ được hoãn cho đến khi sinh con.
  • Không nên bỏ, phá thai nếu người đó vô tình được tiêm vắc xin HPV trong khi mang thai
  • Phụ nữ cho con bú thì không có chống chỉ định cho việc HPV. Các bằng chứng hiện nay không cho thấy việc tăng nguy cơ của phản ứng sau tiêm vắc xin đối với bà mẹ và với trẻ sơ sinh sau khi tiêm vắc xin HPV cho phụ nữ cho con bú.
  • Vắc xin HPV chống chỉ định tiêm cho những người có phản ứng dị ứng mạnh sau liều tiêm vắc xin HPV trước đó hoặc với thành phần của mũi tiêm.


  • Đối với người đi du lịch và cán bộ y tế:
  • Những người đi du lịch và cán bộ y tế không có nguy cơ đặc biệt nhiễm HPV và họ cần phải thực hiện các khuyến cáo tiêm vắc xin như đối với quần thể bình thường.


  • Theo dõi:
  • Theo dõi tỷ lệ hiện nhiễm các típ HPV ở các quần thể phụ nữ trẻ, có hoạt động tình dục sẽ sớm cung cấp thông tin về chỉ số hiệu quả của vắc xin.
  • Vì đòi hỏi sự cam kết về các nguồn lực cho ít nhất là 5-10 năm nên chiến lược này không phù hợp hoặc không cần thiết đối với tất cả các nước.
  • Tuy nhiên, tất cả các nước phải xem xét việc thiết lập hoặc nâng cao việc báo cáo ghi nhận ca bệnh ung thư nói chung và UTCTC nói riêng một cách toàn diện.
  • Ghi nhận ung thư dựa vào cộng đồng là cần thiết vì nó đo lường tác động của chương trình tiêm vắc xin HPV và của chương trình sàng lọc phát hiện sớm UTCTC. 
  • Cần phải giám sát tính an toàn của vắc xin HPV. Cần phải tiến hành điều tra kịp thời và kỹ lưỡng bất kì một phản ứng sau tiêm vừa và nặng nào có thể liên quan đến vắc xin để duy trì lòng tin của người dân với chương trình tiêm chủng.


  • Các ưu tiên trong nghiên cứu:
  • Cần phải tiến hành các nghiên cứu bổ sung để thu thập số liệu về hiệu quả lâm sàng lâu dài và thời gian bảo vệ, đặc biệt đối với vắc xin HPV cửu giá* sau các lịch tiêm 2 liều và 3 liều.
  • Các nghiên cứu đa trung tâm ở các nước thu nhập thấp ở phụ nữ trẻ khỏe mạnh và ở các quần thể đặc biệt (ví dụ: những người nhiễm HIV, trẻ vị thành niên suy sinh dưỡng, những người phơi nhiễm với sốt rét lưu hành địa phương) sẽ cung cấp bằng những bằng chứng bổ sung về tác động của vắc xin về những quần thể này.
  • Cần phải nghiên cứu, thu thập bằng chứng về hiệu quả và chi phí hiệu quả của lịch tiêm 1 liều vắc xin, tính sinh miễn dịch và tính an toàn của việc tiêm vắc xin HPV ở trẻ dưới 9 tuổi.

 

*Vắc xin cửu giá chưa được cấp phép lưu hành tại Việt Nam




Nguồn tham khảo: Hội Y Học Dự Phòng Việt Nam, Chẩn đoán, điều trị và dự phòng nhiễm HPV và Ung thư Cổ tử cung, Nhà xuất bản Y học, 2019

(1) Eileen M. Burd, Human Papillomavirus and Cervical Cancer, Clin Microbiol review, 2003

(2) Jose Moutinho, Smoking and Cervical Cancer, ISRN Obstet Gynecol, 2011

(3) Smith JS, Green J, Berrington de Gonzalez A, et al. Cervical cancer and use of hormonal contraceptives: a systematic review. Lancet 2003; 361(9364):1159-1167

(4) Mesele Bezabih, Risk Factors Associated with Invasive Cervical Carcinoma among Women Attending Jimma University Specialized Hospital, Southwest Ethiopia: A Case Control Study, Ethiop J Health Sci. 2015

2ĐÂU LÀ CÁCH TỐT NHẤT ĐỂ DỰ PHÒNG NHIỄM HPV CHỦ ĐỘNG?


Hiện tại, có 2 loại vắc xin HPV được phép lưu hành và sử dụng trên thị trường Việt Nam:

  • Vắc xin HPV nhị giá sử dụng để phòng 2 chủng HPV có thể gây ung thư là HPV16 và HPV18.
  • Vắc xin HPV tứ giá sử dụng để phòng 4 chủng, trong đó có 2 chủng chính gây ra ung thư là HPV16 và HPV18, và 2 chủng gây ra sùi mào gà/mụn cóc hậu môn sinh dục là HPV6 và HPV11.

3CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NHIỄM HPV DỰ PHÒNG NHIỄM HPV NHƯ THẾ NÀO?


Quan hệ tình dục có sử dụng bao cao su chỉ có thể làm giảm nguy cơ lây nhiễm HPV nhưng không có hiệu quả phòng bệnh tuyệt đối. Bởi vì, ngoài lây truyền qua đường tình dục, HPV có thể lây truyền từ người bệnh hoặc người nhiễm HPV không có triệu chứng sang người lành qua tình dục đường miệng, tiếp xúc qua da-niêm mạc có trầy xước, tiếp xúc với các vật dụng có chứa dịch tiết của cơ thể như dùng chung đồ lót, tiếp xúc với tổn thương (vết loét, chảy máu).

4 HPV LÂY TRUYỀN NHƯ THẾ NÀO?


Mặc dù, lây truyền HPV cho con trong quá trình sinh đẻ là hiếm gặp, nhưng sự lây truyền vẫn có thể xảy ra do tiếp xúc da-niêm mạc hoặc các tổn thương, trầy xước trong quá trình sinh đẻ. Khi bị nhiễm HPV, trẻ em có thể mắc bệnh đa bướu gai hô hấp tái phát, là nguyên nhân gây khàn giọng, khó thở ở trẻ nhỏ.

Các tiếp xúc thông thường như ôm, hôn, bắt tay, ăn uống dùng chung bát đũa, tắm ở bể bơi, … không lây truyền HPV.