Ung thư hầu - họng

12:12 | 31/12/2018
Ung thư hầu - họng là một bệnh mà các tế bào ác tính tạo thành trong các mô của hầu - họng. Hầu - họng là một phần giữa cổ họng trong đó bao gồm các cơ sở của lưỡi, amidan, vòm miệng, và các thành của họng [1].

Ung thư hầu - họng là một bệnh mà các tế bào ác tính tạo thành trong các mô của hầu - họng. Hầu - họng là một phần giữa cổ họng trong đó bao gồm các cơ sở của lưỡi, amidan, vòm miệng, và các thành của họng [1]. Ung thư hầu - họng có thể được chia thành hai loại: ung thư có liên quan đến nhiễm vi rút gây u nhú ở người (HPV -Human Papilloma Virus), và ung thư có liên quan đến rượu hoặc sử dụng thuốc lá.

Ung thư hầu - họng ung thư  có dương tính với HPV còn được gọi là HPV16 và ung thư hầu - họng (HPV và OPC) là sự kết hợp của ung thư biểu mô tế bào vảy hầu - họng  (OSCC), kết hợp với loại HPV- 16 vi rút [2].

1.    Dịch tễ học 

HPV và OPC có xu hướng trẻ hóa so với những người chỉ nhiễm HPV [4]. Hiện nay, tỷ lệ nhiễm HPV ngày càng tăng có liên quan đến bệnh ung thư hầu- họng ở Mỹ, có thể là do thay đổi hành vi tình dục không an toàn [3][4].

Giảm tỷ lệ hút thuốc có thể  dẫn tới giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư âm tính với HPV [5]. Trong khi những thay đổi trong hoạt động tình dục lại làm tăng tỷ lệ mắc ung thư dương tính với HPV [6]. Tại Mỹ, HPV và OPC chiếm khoảng 60% các trường hợp OPC lớn hơn 40% so với thập kỷ trước [7]. Đến 2007, tỷ lệ mắc chung OPC ở Mỹ, bao gồm cả không liên quan đến HPV, là 3,2 trường hợp trên 100.000 nam giới/năm và 1,9 trường hợp trên 100.000 nữ giới/năm [8]. Tỷ lệ mắc HPV liên quan đến mắc OPC cũng được tăng lên ở các nước khác. Ví dụ, tại Thụy Điển (2007), có trên 80% trường hợp mắc HPV đối với ung thư ở Amidan [9][10]. Tại Úc, tỷ lệ mắc HPV liên quan OPC là 1,56 trường hợp trên 100.000 nam giới/năm [11].
 
Hình 1. Hình ảnh giải phẫu hầu họng 
 
2.    Nguyên nhân 

Nhiễm trùng răng miệng HPV xuất hiện trước khi có sự phát triển của HPV và OPC [12]. Chấn thương nhẹ ở lớp màng chất nhầy đóng vai trò quan trọng trong việc lây nhiễm  HPV. Chúng có thể xâm lấn xuống lớp đáy của thượng bì [13][14]. Những người xét nghiệm dương tính với HPV-16 ở miệng có có nguy cơ phát triển tình trạng nhiễm HPV và OPC cao gấp 14 lần so với những người không nhiễm HPV[13].

Suy giảm miễn dịch cũng là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm HPV và OPC [25]. Những người có di truyền TGF-β1, đặc biệt T869C, có nhiều khả năng có HPV16 và OPC [15]. TGF-β1 đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hệ thống miễn dịch.

Một nghiên cứu (1999) đã phát hiện ra rằng những bệnh nhân có nhiễm HPV liên quan đến bệnh ung thư ở bộ phận sinh dục thì có nguy cơ gia tăng gấp 4,3 lần  nguy cơ mắc hạch hạnh nhân của ung thư biểu mô tế bào vảy [16].

Đồng nhiễm vi rút Herpes-8 có thể dẫn đến nguy cơ nhiễm HPV-16 rất cao [17].

3.    Triệu chứng
 
Những dấu hiệu có thể có của bệnh ung thư hầu họng [1][18] bao gồm:
-    Đau họng kéo dài
-    Đau hoặc khó nuốt
-    Giảm cân không rõ nguyên nhân
-    Thay đổi giọng nói
-    Đau tai
-    Có khối u ở mặt sau của cổ họng hoặc miệng
-    Có khối u trong cổ
-    Xuất hiện cơn đau âm ỉ phía sau xương ức
-    Ho

4.    Quá trình phát triển

Ung thư lan rộng trong cơ thể theo 3 cách: 
-    Ung thư xâm nhập vào các mô bình thường xung quanh.
-    Ung thư xâm nhập vào hệ thống bạch huyết và đi qua các mạch bạch huyết đến các nơi khác trong cơ thể.
-    Ung thư xâm nhập vào tĩnh mạch, mao mạch và đi qua máu đến những nơi khác trong cơ thể.

Các giai đoạn phát triển:

   Giai đoạn 0: ung thư biểu mô tại chỗ. Tế bào bất thường được tìm thấy trong lớp màng của hầu họng. Chúng có thể trở thành ung thư và lây lan vào các mô bình thường xung quanh.

-    Giai đoạn 1: Ung thư đã được hình thành, có kích thước 20mm hoặc nhỏ hơn và chưa lan ra ngoài vùng hầu họng.

-    Giai đoạn 2: Ung thư đã hình thành và kích thước lớn hơn 20mm nhưng không lớn hơn 40mm. Chưa lan ra ngoài vùng hầu họng.

-    Giai đoạn 3: Kích thước của ung thư lớn hơn 40mm. Chưa lan rộng ra bên ngoài vùng hầu- họng. Bất kỳ kích thước và đã lan rộng đến chỉ có một hạch bạch huyết trên cùng một bên của các cổ như ung thư. Các hạch bạch huyết bị ung thư là 30mm hoặc nhỏ hơn.

-    Giai đoạn 4A: Ung thư đã lan đến các mô gần vùng hầu họng, bao gồm vòm miệng, hàm dưới, các cơ của lưỡi hoặc cơ trung tâm của hàm và có thể lây lan sang một hoặc nhiều hạch bạch huyết gần đó, và kích thước của khối u không lớn hơn 60mm. Giai đoạn này, ung thư đã lan rộng đến một hoặc nhiều hạch bạch huyết, có nghĩa là lớn hơn 30mm nhưng không lớn hơn 60mm.

-    Giai đoạn 4B:  Ung thư bao quanh động mạch chính ở cổ hoặc đã di căn đến xương trong xương hàm, di căn đến phần cơ ở phía bên của hàm hoặc phần trên của cổ họng phía sau mũi và có thể lan đến các hạch bạch huyết gần đó. Ung thư đã lan đến hạch bạch huyết có nghĩa là lớn hơn 60 mm và có thể đã lây lan đến các mô xung quanh vùng hầu họng.

-    Giai đoạn 4C: Ung thư đã lan đến tất cả các bộ phận khác của cơ thể, và có thể lan đến các hạch bạch huyết.

Một nghiên cứu được tiến hành hơn 15 năm, đã phát hiện ra rằng những người có nguy cơ tiếp xúc với HPV cao thì khả năng tiến triển lên HPV và OPC càng cao [18]. Bệnh ung thư liên quan đến HPV gây ra bởi sự xuất hiện của E6 và E7 của protein HPV liên kết với khối u ức chế và bất hoạt Protein p53 và Protein nguyên bào võng mạc. 

5.    Chẩn đoán 

Các xét nghiệm và phương pháp sau đây có thể được sử dụng để chẩn đoán ung thư hầu- họng:
+ Kiểm tra vật lý và lịch sử của bệnh: khám để phát hiện các dấu hiệu chung về sức khỏe, bao gồm cả kiểm tra các dấu hiệu của bệnh, chẳng hạn như sưng hạch bạch huyết ở cổ hoặc bất cứ điều gì khác bất thường. Kiểm tra miệng và cổ và cổ họng bằng gương nhỏ để kiểm tra các khu vực bất thường. Sau đó, hỏi về các thói quen sức khỏe của bệnh nhân, các bệnh trước đây và phương pháp điều trị.
    + CT scan (CAT scan): chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cắt lớp trục vi tính nhằm mục đích chụp lại chi tiết các hình ảnh ở khu vực bên trong cơ thể từ các góc độ khác nhau, để xem có dấu hiệu bất thường.
+ MRI (chụp cộng hưởng từ): sử dụng nam châm, sóng radio và máy tính để thực hiện một loạt các hình ảnh chi tiết của khu vực bên trong cơ thể. Thủ tục này còn được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân (NMRI).
+ X-quang: Chụp X-quang của các cơ quan và xương. X-quang là một loại tia năng lượng có thể đi qua cơ thể và được ghi thành phim các hình ảnh của khu vực bên trong cơ thể.
+ PET scan (positron phát thải chụp CT scan): để tìm các tế bào khối u ác tính trong cơ thể. Một lượng nhỏ phóng xạ gắn vào đường (glucose) được tiêm vào tĩnh mạch. Máy quét PET quay xung quanh cơ thể và quan sát các phần có dòng phóng xạ chạy qua. Các tế bào khối u ác tính xuất hiện sáng hơn trong hình vì chúng đang hoạt động mạnh hơn và mất nhiều glucose hơn các tế bào bình thường.
+ Nội soi: nhằm mục đích quan sát các cơ quan và mô trong cơ thể để phát hiện bộ phận bất thường. Ống nội soi được đưa vào thông qua mũi hay miệng của bệnh nhân và quan sát các tế bào bên trong. Nội soi cũng có thể có một công cụ để loại bỏ các mô hoặc mẫu hạch bạch huyết có dấu hiệu của bệnh sau khi được kiểm tra dưới kính hiển vi.
+ Sinh thiết: Việc loại bỏ các tế bào hoặc mô có dấu hiệu của bệnh ung thư sau khi xác định bằng quan sát dưới kính hiển vi và phân tích bệnh học.

Từ kết quả của các phương pháp trên, các bác sĩ sẽ chẩn đoán về tình trạng mắc ung thư và giai đoạn mắc ung thư của bệnh nhân.

6.    Phòng ngừa 

Có nhiều bạn tình, từng quan hệ tình dục bằng miệng-sinh dục, quan hệ tình dục qua đường hậu môn, miệng, có kết quả Pap smear bất thường hoặc chứng loạn sản cổ tử cung, có xuất hiện mụn cóc sinh dục là các chỉ điểm nguy cơ của bệnh[19] [20] [21] [22]. Nghiên cứu (2010) kết luận rằng người sử dụng thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc HPV và OSCC, và có nguy cơ cao tái phát bệnh cao so với những người không bao giờ hút thuốc lá [23].

Do đó, biện pháp tốt nhất để giảm nguy cơ nhiễm HPV và OPC là giảm các yếu tố nguy cơ cao của bệnh và tiêm vắc xin HPV đầy đủ, đủ liều và đúng thời điểm.

7.    Điều trị 

Đối với những người mắc bệnh ung thư hầu họng, biện pháp điều trị tốt nhất là kết hợp giữa xạ trị và hóa trị liệu. Liệu pháp này có hiệu quả được so sánh tương tự như xử trí ngoại khoa. 

Kết quả của nghiên cứu trên 27 bệnh nhân trải qua giai đoạn phát triển (III và IV) của ung thư hầu họng cho thấy 67% đã có cơ sở các tổn thương lưỡi và 82% sử dụng ống dạ dày trước hoặc trong quá trình điều trị. Ba tháng sau khi điều trị kết hợp hóa trị và xạ trị, có 33% bệnh nhân ăn được bằng đường miệng, 45% đã có thể ăn uống nhưng vẫn phải cho ăn qua ống và 22% đã không thể ăn uống được [24].

Tài liệu tham khảo
1.    "Oropharyngeal Cancer Overview". Cleveland Clinic. 9/7/2007. Retrieved 2011-04-18.
2.    Westra, W. H. (2009). "The Changing Face of Head and Neck Cancer in the 21st Century: the Impact of HPV on the Epidemiology and Pathology of Oral Cancer". Head and Neck Pathology 3 (1): 78–81
3.    Lajer, C. B.; Buchwald, C. V. (2010). "The role of human papillomavirus in head and neck cancer". APMIS 118 (6–7): 510. doi:10.1111/j.1600-0463.2010.02624.x.PMID 20553531. edit
4.    ^ Sturgis, E.; Cinciripini, P. (Oct 2007). "Trends in head and neck cancer incidence in relation to smoking prevalence: an emerging epidemic of human papillomavirus-associated cancers?". Cancer 110 (7): 1429–1435. 
5.    Cook, M.; Dawsey, S.; Freedman, N.; Inskip, P.; Wichner, S.; Quraishi, S.; Devesa, S.; McGlynn, K. (2009). "Sex disparities in cancer incidence by time period and age".Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention 18 (4): 1174–1182. 
6.    Chaturvedi, A. K.; Engels, E. A.; Pfeiffer, R. M.; Hernandez, B. Y.; Xiao, W.; Kim, E.; Jiang, B.; Goodman, M. T. et al. (2011). "Human Papillomavirus and Rising Oropharyngeal Cancer Incidence in the United States". Journal of Clinical Oncology 29 (32): 4294–4301.
7.    Adelstein, D. J.; Cristina P. Rodriguez (February 3, 2010)."Human Papillomavirus: Changing Paradigms in Oropharyngeal Cancer". Current Oncology Reports(Current Medicine Group LLC) 12 (2): 115–120.
8.    "Cancer of the Oral Cavity and Pharynx by Subsite".SEER Cancer Statistics Review 1975-2007. Surveillance, Epidemiology and End Results (SEER) Program. 15 April 2010. Retrieved 18 April 2010.
9.    ^ Näsman, A.; Attner, P.; Hammarstedt, L.; Du, J.; Eriksson, M.; Giraud, G.; Ahrlund-Richter, S.; Marklund, L. et al. (Jul 2009). "Incidence of human papillomavirus (HPV) positive tonsillar carcinoma in Stockholm, Sweden: an epidemic of viral-induced carcinoma?". International Journal of Cancer. Journal International Du Cancer 125 (2): 362–366.
10.    Hammarstedt, Lalle (2008), Tonsillar Cancer - Incidence, Prevalence of HPV and Survival (PDF), Stockholm,ISBN 978-91-7357-587-4, retrieved 30 April 2010
11.     Hong, A. M.; Grulich, A. E.; Jones, D.; Lee, C. S.; Garland, S. M.; Dobbins, T. A.; Clark, J. R.; Harnett, G. B. et al. (2010). "Squamous cell carcinoma of the oropharynx in Australian males induced by human papillomavirus vaccine targets".Vaccine 28 (19): 3269–3272.
12.    Chaturvedi, Anil; Maura L. Gillison (March 4, 2010). "Human Papillomavirus and Head and Neck Cancer". In Andrew F. Olshan. Epidemiology, Pathogenesis, and Prevention of Head and Neck Cancer(1st ed.). New York
13.    Michl, P; Pazdera, J; Prochazka, M; Pink, R; Stosova, T (2010). "Human papillomavirus in the etiology of head and neck carcinomas" (PDF). Biomedical papers of the Medical Faculty of the University Palacky, Olomouc, Czechoslovakia 154 (1): 9–12.  
14.    Vidal, L.; Gillison, M. (2008). "Human papillomavirus in HNSCC: recognition of a distinct disease type".Hematology/oncology clinics of North America 22 (6): 1125–1142. 
15.    Guan, X.; Sturgis, E.; Lei, D.; Liu, Z.; Dahlstrom, K.; Wei, Q.; Li, G. (2010). "Association of TGF-beta1 genetic variants with HPV16-positive oropharyngeal cancer". Clinical Cancer Research 16 (5): 1416–1422. 
16.    Frisch, M.; Biggar, R. (1999). "Aetiological parallel between tonsillar and anogenital squamous-cell carcinomas". The Lancet 354 (9188): 1442. 
17.    Underbrink, M.; Hoskins, S.; Pou, A.; Albrecht, T. (2008). "Viral interaction: a possible contributing factor in head and neck cancer progression". Acta Oto-Laryngologica 128 (12): 1361–1369.  
18.     "Oropharyngeal Cancer Treatment (PDQ®)". National Cancer Institute. Retrieved 2011-04-18.
19.     Schwartz, S. M.; Daling, J. R.; Doody, D. R.; Wipf, G. C.; Carter, J. J.; Madeleine, M. M.; Mao, E. J.; Fitzgibbons, E. D. et al. (1998). "Oral cancer risk in relation to sexual history and evidence of human papillomavirus infection". Journal of the National Cancer Institute 90 (21): 1626–1636.
20.    Smith, E.; Ritchie, J.; Summersgill, K.; Klussmann, J.; Lee, J.; Wang, D.; Haugen, T.; Turek, L. (Feb 2004). "Age, sexual behavior and human papillomavirus infection in oral cavity and oropharyngeal cancers". International Journal of Cancer. Journal International Du Cancer 108 (5): 766–772.
21.    D'Souza, G.; Kreimer, A.; Viscidi, R.; Pawlita, M.; Fakhry, C.; Koch, W.; Westra, W.; Gillison, M. (May 2007). "Case-control study of human papillomavirus and oropharyngeal cancer". The New England Journal of Medicine 356 (19): 1944–1956. 
22.    Hemminki, K.; Dong, C.; Frisch, M. (Dec 2000). "Tonsillar and other upper aerodigestive tract cancers among cervical cancer patients and their husbands". European journal of cancer prevention: the official journal of the European Cancer Prevention Organisation (ECP) 9 (6): 433–437.
23.    Maxwell, J. H.; Kumar, B.; Feng, F. Y.; Worden, F. P.; Lee, J. S.; Eisbruch, A.; Wolf, G. T.; Prince, M. E. et al. (2010)."Tobacco Use in Human Papillomavirus-Positive Advanced Oropharynx Cancer Patients Related to Increased Risk of Distant Metastases and Tumor Recurrence". Clinical Cancer Research 16 (4): 1226. 
24.     Shiley SG; Hargunani CA; Skoner JM; Holland JM; Wax MK (March 2006). "Swallowing Function after Chemoradiation for Advanced Stage Oropharyngeal Cancer". Otolaryngol Head Neck Surgery 134(3): 455–9. PMID 16500444
25.    Mannarini, L.; Kratochvil, V.; Calabrese, L.; Gomes Silva, L.; Morbini, P.; Betka, J.; Benazzo, M. (2009). "Human Papilloma Virus (HPV) in head and neck region: review of literature". Acta otorhinolaryngologica Italica: organo ufficiale della Societa italiana di otorinolaringologia e chirurgia cervico-facciale 29 (3): 119–126.



Biên dịch và tổng hợp bởi
CN. Bùi Thị Thúy Giang, Đại học Y tế Công cộng


Viết bình luận

Bình luận (1)

Trần thị manh

Tôi bi hp

14:06 | 13/06/2019

THÔNG TIN KHÁC:

Bác sĩ Trần Ngọc Linh: Độ tuổi tiêm vắc xin ngừa vi rút HPV lý tưởng nhất là 9-16 tuổi

12:12 | 31/12/2018

Trưởng bộ môn ung thư, Đại học Y dược TP HCM cho biết, HPV là loại virus phổ biến đến nỗi phần lớn đàn ông và phụ nữ từng quan hệ tình dục sẽ nhiễm vào một thời điểm nào đó trong đời.

HPV VÀ CÁC BỆNH LIÊN QUAN

12:12 | 31/12/2018

HPV lan truyền qua tình dục đường miệng. Chúng ta không biết hết sự thật về những điều xảy ra nếu một người nhiễm HPV thông qua tình dục đường miệng. Việc HPV lan truyền dễ dàng hơn từ miệng của người nhiễm bệnh đến bộ phận sinh dục của đối tác, hoặc ngược lại thì cũng không rõ ràng. Chúng ta biết rằng HPV có liên quan tới các bệnh ở miệng, phổi và đường tiêu hóa.

Mối liên quan giữa HPV và ung thư cổ tử cung

17:12 | 27/12/2018

Chủng HPV phổ biến nhất gây ung thư cổ tử cung là HPV 16 và HPV18, được tìm thấy trong 70% của tất cả các trường hợp UTCTC. Các chủng có nguy cơ thấp là HPV6 và HPV11, tuy không có liên quan đến bệnh ung thư, nhưng gây ra mụn cóc sinh dục...