Mụn cóc sinh dục

12:12 | 31/12/2018
Là bệnh lây truyền qua đường tình dục, do Human Papillomavirus (HPV) gây ra, có mối liên quan giữa bệnh mồng gà và HPV. Thời gian ủ bệnh từ 1-3 tháng, cũng có thể lâu hơn từ vài tháng đến 1 năm. Lứa tuổi mắc nhiều nhất là từ 20-45 tuổi

1.    Dịch tễ học

Là bệnh lây truyền qua đường tình dục, do Human Papillomavirus (HPV) gây ra, có mối liên quan giữa bệnh mồng gà và HPV. Thời gian ủ bệnh từ 1-3 tháng, cũng có thể lâu hơn từ vài tháng đến 1 năm. Lứa tuổi mắc nhiều nhất là từ 20-45 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới nhiều hơn nam giới. Tác nhân gây bệnh là vi rút thuộc nhóm PAPOVA (Papillome polyform vacuolization), type 6, 11 thường gặp nhất. Các type 16, 18, 31, 33, 35 thường phối hợp gây loạn sản hoặc ung thư cổ tử cung. Đường lây truyền chủ yếu thông qua tiếp xúc tình dục, dịch tiết hoặc tiếp xúc da. Ở trẻ sơ sinh, lây truyền có thể xảy ra trong lúc sinh. Yếu tố nguy cơ là do vệ sinh kém, bộ phận sinh dục thường ẩm ướt, bao qui đầu dài, viêm âm hộ âm đạo, suy giảm miễn dịch, đa số kèm với các bệnh hoa liễu khác.

2.    Dấu hiệu lâm sàng

2.1.    Các tổn thương

    Là những sẩn sùi, mềm, màu hồng,  kích thước từ 1mm đến vài cm, da trên bề mặt mỏng ẩm ướt, không đau, hơi ngứa, đụng vào dễ chảy máu. Số lượng từ một vài đến nhiều tổn thương xảy ra cùng một lúc.
 
Hình 1. Mồng gà ở nữ 

 
Hình 2. Mồng gà ở nam 

 2.2.    Vị trí tổn thương
    Tổn thương thường ở vị trí vùng da, niêm mạc đường sinh dục (âm hộ, âm đạo, cổ tử cung ), đường tiểu, quanh hậu môn, mắt, mũi, miệng.
Hình 3.  Mồng gà hậu môn

 
Hình 4. Mồng gà cổ tử cung 
 
 Hình 5. Lan tới miệng, hầu họng  hay thanh khí quản

2.3.    Diễn tiến của tổn thương
    Từ khi nhiễm cho đến khi thấy sang thương không thể sớm hơn 12 tháng, 50% biến mất sau 6 tháng sau, 25% tồn tại, 25% diễn tiến tới thể nặng hơn là tân sinh trong biểu mô và ung thư cổ tử cung.  Tỷ lệ thoái triển và trở về bình thường sau 1-2 năm là trên 75%. Có thể tái phát sau điều trị, nhất là dạng có nhiều sang thương phẳng. Có thể trở thành u nhú khổng lồ Buschle- Lowenstein: đây là dạng khác của bệnh mồng gà và được xem là sự thay đổi đáp ứng của cơ thể đối với virus hay do độc lực của virus quá mạnh. Bướu to tăng sừng giống ung thư tế bào gai, xâm lấn thể hang, niệu đạo. Có mối quan hệ với ung thư cổ tử cung tùy type huyết thanh (HPV type16, 18)

3.    Chẩn đoán 

3.1.    Chẩn đoán xác định

    Trong những trường hợp điển hình chẩn đoán dựa vào lâm sàng. Trường hợp tổn thương không điển hình, cần sinh thiết để loại trừ sang thương ác tính của lớp thượng bì.    
               
3.2.    Chẩn đoán phân biệt

    Codyloma lata (sẩn ướt giang mai II): sang thương ẩm ướt hơn, bề mặt trải rộng hơn, bằng phẳng hơn mồng gà, rất lây, phản ứng huyết thanh (+). Ung thư tế bào gai: tăng sừng, dễ chảy máu hơn, đau, thâm nhiễm cứng, hạch di căn. Gai sinh dục: Ở 2 bên đối xứng, đụng vào không chảy máu. Noevus sùi dạng cóc: thường có từ nhỏ.

4.    Biến chứng

Các biện chứng thường gặp khi bị sùi mào gà là bội nhiễm (nhiễm trùng từ 2 căn nguyên gây bệnh trở lên cùng một lúc). Đối với phụ nữ có thai, các tổn thương phát triển mạnh gây trở ngại khi sanh, thường phải mổ lấy thai. Đặc biệt là có thể ung thư hóa, tuy nhiên thể này hiếm gặp.

5.    Điều trị

5.1.    Mục đích điều trị

    Chủ yếu phá hủy tổn thương bằng phương pháp tại chỗ, lọai bỏ yếu tố thuận lợi, tăng sức đề kháng, điều trị bạn tình.

5.2.    Các phương pháp điều trị
    Tùy theo vị trí và độ lớn của sang thương mà có thể chọn 1 trong các cách điều trị sau:
    Dung dịch Podofilox 0.5% hoặc gel x 2 lần/ ngày x 3 ngày, tiếp theo 4 ngày không điều trị. Có thể lặp lại khi cần thiết ( 4 đợt ). Điều kiện: tổn thương < 10 cm2, chỉ dùng cho những tổn thương nhỏ ở âm hộ, chấm mỗi tuần 1 lần và phải rửa sạch sau 1-3 giờ, dùng < 0.5ml/ ngày.
    Imiquimod 5% cream: bôi buổi tối trước ngủ, 3 lần/tuần, cho đến khi sạch sang thương ( tối đa 16 tuần). Sự điều trị sang thương sẽ rửa  với xà phòng và nước sau khi bôi thuốc 6-10 giờ.
    Podophyllin resin 10%-25% trong hỗn hợp cồn benzoin. Dùng một lượng nhỏ bôi lên tổn thương. Có thể lặp lại mỗi tuần , nếu cần thiết, tránh biến chứng rối lọan sự hấp thu và nhiễm độc, 2 hướng dẫn quan trọng: Liều < 0.5 ml hoặc tổn thương < 10 cm2. Tổn thương đang điều trị không hở. Một vài gợi ý rằng nên rửa tổn thương sau khi thoa thuốc 1- 4 giờ để làm giảm kích thích tại chỗ.
    Trichloroacetic acid (TCA) hoặc Bichloroacetic acid (BCA) 80%-90% chỉ dùng 1 lượng nhỏ bôi lên sang thương làm cho tế bào phồng lên. Nếu dùng 1 lượng nhiều , vùng đó phải được thoa bằng phấn Tale, sodium bicarbonate , hoặc  xà phòng để lọai bỏ phản ứng với acid. Điều trị này có thể lặp lại hằng tuần.
    Phương pháp làm lạnh: bằng tuyết CO2 hoặc Nitơ lỏng. Lặp lại 1-2 tuần.
    Điều trị phẫu thuật: cắt bỏ tiếp tuyến đi sát gần, nạo bằng thìa, hoặc đốt bằng tia Laser CO2, đốt điện.

6.    Phòng ngừa

Biện pháp phòng ngừa chủ động là sử dụng vắc xin. Hiện nay, loại vắc xin tứ giá Gardasil ngừa HPV type 6, 11, 16, 18 dùng cho phụ nữ từ 9-26 tuổi có thể phòng ngừa bị sùi mào gà do 2 chủng HPV6, 11 gây ra. Tiêm bắp với 3 liều 0,5ml cách nhau theo lịch tiêm 0, 2, 6 tháng.

Tài liệu tham khảo
1.    Baseman JG et al. J Clin Virol 2005;32:16-24.
2.    Bosch FX et al. J Natl Cancer Inst Monogr 2003;31:3-13.
3.    Clifford GM et al. Br J Cancer 2003;89:101-5.
4.    Munoz N et al. Int J Cancer 2004;111:278-85.


Tác giả

PGS.TS. Võ Minh Tuấn
Giảng viên Đại học Y Dược TP. HCM
Bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, TP. HCM


Viết bình luận

Bình luận (0)


THÔNG TIN KHÁC:

Bác sĩ Trần Ngọc Linh: Độ tuổi tiêm vắc xin ngừa vi rút HPV lý tưởng nhất là 9-16 tuổi

12:12 | 31/12/2018

Trưởng bộ môn ung thư, Đại học Y dược TP HCM cho biết, HPV là loại virus phổ biến đến nỗi phần lớn đàn ông và phụ nữ từng quan hệ tình dục sẽ nhiễm vào một thời điểm nào đó trong đời.

HPV VÀ CÁC BỆNH LIÊN QUAN

12:12 | 31/12/2018

HPV lan truyền qua tình dục đường miệng. Chúng ta không biết hết sự thật về những điều xảy ra nếu một người nhiễm HPV thông qua tình dục đường miệng. Việc HPV lan truyền dễ dàng hơn từ miệng của người nhiễm bệnh đến bộ phận sinh dục của đối tác, hoặc ngược lại thì cũng không rõ ràng. Chúng ta biết rằng HPV có liên quan tới các bệnh ở miệng, phổi và đường tiêu hóa.

Mối liên quan giữa HPV và ung thư cổ tử cung

17:12 | 27/12/2018

Chủng HPV phổ biến nhất gây ung thư cổ tử cung là HPV 16 và HPV18, được tìm thấy trong 70% của tất cả các trường hợp UTCTC. Các chủng có nguy cơ thấp là HPV6 và HPV11, tuy không có liên quan đến bệnh ung thư, nhưng gây ra mụn cóc sinh dục...